PDA

View Full Version : BẮT GIỮ TÀU BIỂNCHUYÊN ĐỀ


tuvanphapluatlaw
28-06-2013, 03:36 PM
Bắt giữ tàu biển (http://daotaophapluat.edu.vn/dao-tao-can-bo-ngan-hang-zy-226/bat-giu-tau-bien---chuyen-de-1.html)

“Bắt giữ” là một sự lưu giữ hoặc hạn chế dịch chuyển tàu theo quyết định của Tòa án để bảo đảm cho một khiếu nại hàng hải, chứ không bao hàm việc bắt giữ tàu để thi hành một Bản án hay một văn bản có hiệu lực thi hành khác (Khoản 2 Điều 1 Công ước năm 1999 của Liên Hợp Quốc về bắt giữ tàu).

Pháp luật Việt Nam mở rộng hơn khái niệm “Bắt giữ tàu biển”. Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 57/2010/NĐ-CP quy định: “Bắt giữ tàu biển là việc không cho phép tàu biển di chuyển hoặc hạn chế di chuyển tàu biển bằng quyết định của Tòa án có thẩm quyền để bảo đảm giải quyết khiếu nại hàng hải, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự hoặc theo ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài;...”.

Vì tính đặc thù khi nhận thế chấp tàu biển là người nhận thế chấp không được cầm bản chính Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam do đó hợp đồng thế chấp tàu biển có ý nghĩa quan trọng trong việc bắt giữ tàu biển để thực hiện nghĩa vụ được đảm bảo (Điều 20a Nghị định số 11/2012/NĐ-CP (http://luatsurieng.vn/thong-tin-phap-luat-1220/Nghi-dinh-so-11-2012-ND-CP-cua-Chinh-phu-ban-hanh-ngay-22-02-2012.html)).

Các trường hợp bắt giữ tàu biển

Bắt giữ tàu biển bằng con đường Toà án nhằm mục đích buộc Chủ tàu phải chịu trách nhiệm bồi thường khi họ có hành vi gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khác… là một chế định quan trọng trong Luật Hàng hải Quốc tế cũng như Luật Hàng hải của các quốc gia có biển.

Một con tàu chỉ có thể bị bắt giữ theo Quyết định của Tòa án để đảm bảo giải quyết khiếu nại hàng hải, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thi hành án dân sự và theo ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài.

Thẩm quyền bắt giữ tàu

Điều 40 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 (http://www.luatsurieng.vn/van-ban-download-6260/luat-hang-hai-so--40-2005-qh11.html) quy định:“Bắt giữ tàu biển là việc không cho phép tàu biển di chuyển hoặc hạn chế di chuyển tàu biển bằng Quyết định của Toà án để bảo đảm giải quyết khiếu nại hàng hải…”

Thủ tục bắt giữ tàu biển (Điều 3 Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008):

Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) nơi có cảng biển, cảng thủy nội địa (sau đâu gọi là cảng) mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển đó để đảm bảo giải quyết khiếu nại hàng hải, thi hành án dân sự, thực hiện ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài.

Trường hợp cảng có nhiều bến cảng thuộc địa phận các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có bến cảng mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển đó.

Tòa án Nhân dân đang giải quyết vụ án dân sự, Tòa án Nhân dân cấp tỉnh nơi Hội đồng Trọng tài thụ lý vụ tranh chấp có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển.

Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao xem xét, quyết định xem Tòa án nào có thẩm quyền bắt giữ tàu biển trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Như vậy, việc bắt giữ tàu chỉ được thực hiện khi có quyết định của Tòa án có thẩm quyền. Theo quy định của pháp luật, Tòa án có thẩm quyền ra quyết định bắt giữ tàu biển đó là Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tùy từng vụ việc mà Chánh án Tòa án giao cho Tòa án lao động, Tòa án dân sự hoặc Tòa án kinh tế… giải quyết. Cơ quan tiến hành thủ tục bắt giữ tàu biển thực hiện quyết định bắt giữ của Tòa án là Giám đốc Cảng vụ Hàng hải.

Khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008 quy định: “Trong thời hạn mười hai giờ kể từ thời điểm được phân công, cán bộ Tòa án phải đến cảng giao hai bản quyết định cho Giám đốc Cảng vụ hàng hải hoặc Giám đốc Cảng thủy nội địa (sau đây gọi là Giám đốc Cảng vụ) nơi tàu biển đang hoạt động hàng hải bị yêu cầu bắt giữ. Giám đốc Cảng vụ thực hiện quyết định bắt giữ tàu biển hoặc quyết định thả tàu biển đang bị bắt giữ theo quy định của pháp luật và giao cho thuyền trưởng một bản để thi hành.”

Điều 4 Nghị định số 57/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hành thủ tục bắt giữ tàu biển quy định: “Giám đốc Cảng vụ thực hiện quyết định bắt giữ tàu biển, quyết định thả tàu biển đang bị bắt giữ theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan. Giám đốc Cảng vụ có thể ủy quyền cho cấp phó hoặc trưởng, phó đại diện Cảng vụ thực hiện quyết định bắt giữ tàu biển, quyết định thả tàu biển đang bị bắt giữ. Việc ủy quyền phải được thực hiện bằng văn bản.”

Tóm lại:

Việc bắt giữ tàu biển được thực hiện khi có quyết định của Tòa án có thẩm quyền, người có thẩm quyền thực hiện quyết định bắt giữ tàu biển là Giám đốc cảng vụ, Giám đốc cảng vụ có thể ủy quyền cho cấp phó hoặc trưởng, phó đại diện Cảng vụ thực hiện quyết định đó.



TRUNG TÂM ĐÀO TẠO PHÁP LUẬT (http://daotaophapluat.edu.vn/dao-tao-phap-luat-za-280/lien-he.html)
Phòng 1504 Tháp A, Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội
Mobile: 098 367 6668 Phone: 043 724 6666 Fax: 043 538 0666