tuvanphapluatlaw
15-08-2013, 08:11 AM
Thực trạng về bình đẳng giới ở Việt Nam (http://daotaophapluat.edu.vn/dao-tao-can-bo-hoa-giai-co-so-zy-392/bao-cao-vien-chuyen-de-ve-binh-dang-gioi.html)
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu và tiến bộ về bình đẳng giới, cụ thể:
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bình đẳng giới (http://www.luatsurieng.vn/van-ban-download-6241/luat-binh-dang-gioi-so--73-2006-qh11.html);
Sự chênh lệnh về tỷ lệ nhập học giữa các em nữ và các em nam ở Việt Nam rất thấp;
Việt Nam có tỷ lệ tham gia kinh tế cao nhất trên thế giới - 85% nam giới và 83% nữ giới ở độ tuổi từ 15 đến 60 tham gia vào các hoạt động kinh tế;
Việt Nam luôn dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về các chỉ số về bình đẳng giới. Việt Nam thực hiện tốt việc cung cấp các dịch vụ y tế và giáo dục tới các trẻ em gái và trẻ em trai, phụ nữ và nam giới;
Việt Nam có mức bình đẳng giới cao thứ 11 thế giới.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, định kiến giới vẫn còn tồn tại. Từ thời phong kiến phụ nữ đã bị coi thường, tính mạng, sức khỏe và phúc lợi của phụ nữ bị đe dọa do họ phải làm việc quá sức, thiếu quyền lực và bị phân biệt. Chính điều này đã ngăn cản phụ nữ sống lành mạnh và sống hết mình.
Ông bà ngày xưa có câu “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, rõ ràng quan niệm này cho thấy việc xem trọng con trai: 1 con trai thì có, 10 con gái cũng như không. Mặc dù đó là quan niệm sai lầm nhưng còn nặng trong tư tưởng của mỗi người dân Á đông cả trong xã hội hiện đại.
Những mặt còn tồn tại như sau:
Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ số chỉ số giới tính ở Việt Nam đang trải qua thời kỳ gia tăng bất thường, liên tục và ở mức đáng báo động, từ 106,2 bé trai/100 bé gái vào năm 2000 lên tới 110,5 bé trai/100 bé gái vào năm 2009. Việc lựa chọn giới tính thai nhi cho thấy sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, định kiến giới tính. Việt Nam phấn đấu đạt tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020.
Tỷ lệ mù chữ của nữ cao hơn nam giới ;
Phụ nữ vẫn còn nhiều thiệt thòi hơn do với nam giới như tỷ lệ phụ nữ bị mất việc cao hơn so với nam giới ;
Việc lạm dụng và cưỡng ép tình dục đối với nữ vị thành niên ; tình trạng bạo lực đối với phụ nữ vẫn diễn ra khá phổ biến ;
Phụ nữ được đào tạo về kỹ thuật còn thấp, phụ nữ thu nhập ít hơn nam giới với cùng một loại hình công việc ;
Phụ nữ Việt Nam còn gặp khó khăn nhiều hơn nam giới trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng, với các dịch vụ y tế, giáo dục, các hoạt động xã hội, chính trị....;
Đối với công việc gia đình, phụ nữ phải gánh vác nhiều hơn người đàn ông như: công việc chăm sóc gia đình vẫn chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm; phụ nữ và các bé gái vẫn thường phải “nhường nhịn” các điều kiện và cơ hội phát triển cho nam giới và các bé trai…Những yếu tố này đã làm hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Giải pháp :
Điều này chỉ có thể được thay đổi bằng những hành động tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ với những công việc và nguồn lực kinh tế vững chắc, giảm bớt trách nhiệm trong gia đình, gỡ bỏ những rào chắn luật pháp ngăn cản sự tham gia của phụ nữ vào đời sống xã hội và nâng cao nhận thức xã hội.
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO PHÁP LUẬT (http://daotaophapluat.edu.vn/dao-tao-phap-luat-za-287/gioi-thieu.html)
Phòng 1504 Tháp A, Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội
Mobile: 098 367 6668 Phone: 043 724 6666 Fax: 043 538 0666
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu và tiến bộ về bình đẳng giới, cụ thể:
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bình đẳng giới (http://www.luatsurieng.vn/van-ban-download-6241/luat-binh-dang-gioi-so--73-2006-qh11.html);
Sự chênh lệnh về tỷ lệ nhập học giữa các em nữ và các em nam ở Việt Nam rất thấp;
Việt Nam có tỷ lệ tham gia kinh tế cao nhất trên thế giới - 85% nam giới và 83% nữ giới ở độ tuổi từ 15 đến 60 tham gia vào các hoạt động kinh tế;
Việt Nam luôn dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về các chỉ số về bình đẳng giới. Việt Nam thực hiện tốt việc cung cấp các dịch vụ y tế và giáo dục tới các trẻ em gái và trẻ em trai, phụ nữ và nam giới;
Việt Nam có mức bình đẳng giới cao thứ 11 thế giới.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, định kiến giới vẫn còn tồn tại. Từ thời phong kiến phụ nữ đã bị coi thường, tính mạng, sức khỏe và phúc lợi của phụ nữ bị đe dọa do họ phải làm việc quá sức, thiếu quyền lực và bị phân biệt. Chính điều này đã ngăn cản phụ nữ sống lành mạnh và sống hết mình.
Ông bà ngày xưa có câu “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, rõ ràng quan niệm này cho thấy việc xem trọng con trai: 1 con trai thì có, 10 con gái cũng như không. Mặc dù đó là quan niệm sai lầm nhưng còn nặng trong tư tưởng của mỗi người dân Á đông cả trong xã hội hiện đại.
Những mặt còn tồn tại như sau:
Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, tỷ số chỉ số giới tính ở Việt Nam đang trải qua thời kỳ gia tăng bất thường, liên tục và ở mức đáng báo động, từ 106,2 bé trai/100 bé gái vào năm 2000 lên tới 110,5 bé trai/100 bé gái vào năm 2009. Việc lựa chọn giới tính thai nhi cho thấy sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, định kiến giới tính. Việt Nam phấn đấu đạt tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020.
Tỷ lệ mù chữ của nữ cao hơn nam giới ;
Phụ nữ vẫn còn nhiều thiệt thòi hơn do với nam giới như tỷ lệ phụ nữ bị mất việc cao hơn so với nam giới ;
Việc lạm dụng và cưỡng ép tình dục đối với nữ vị thành niên ; tình trạng bạo lực đối với phụ nữ vẫn diễn ra khá phổ biến ;
Phụ nữ được đào tạo về kỹ thuật còn thấp, phụ nữ thu nhập ít hơn nam giới với cùng một loại hình công việc ;
Phụ nữ Việt Nam còn gặp khó khăn nhiều hơn nam giới trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng, với các dịch vụ y tế, giáo dục, các hoạt động xã hội, chính trị....;
Đối với công việc gia đình, phụ nữ phải gánh vác nhiều hơn người đàn ông như: công việc chăm sóc gia đình vẫn chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm; phụ nữ và các bé gái vẫn thường phải “nhường nhịn” các điều kiện và cơ hội phát triển cho nam giới và các bé trai…Những yếu tố này đã làm hạn chế sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Giải pháp :
Điều này chỉ có thể được thay đổi bằng những hành động tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ với những công việc và nguồn lực kinh tế vững chắc, giảm bớt trách nhiệm trong gia đình, gỡ bỏ những rào chắn luật pháp ngăn cản sự tham gia của phụ nữ vào đời sống xã hội và nâng cao nhận thức xã hội.
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO PHÁP LUẬT (http://daotaophapluat.edu.vn/dao-tao-phap-luat-za-287/gioi-thieu.html)
Phòng 1504 Tháp A, Hà Thành Plaza, 102 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội
Mobile: 098 367 6668 Phone: 043 724 6666 Fax: 043 538 0666