H
-------------------------------------------------------------------------------
Keith Haring
(1958 - 1990)
Sinh tại: Kutztown, PA, Mỹ
Làm việc: New York, NY, Mỹ
Nếu chủ nghĩa Hậu Hiện đại nâng nghệ thuật bình dân lên địa vị của nghệ thuật cao cấp, nó cũng cho phép những người chủ ngành truyền thông kiếm chác được từ những khuynh hướng văn hóa nhóm: Rap, grunge, mốt thời trang, hay bất kỳ cái gì khác. Andy Warhol đã thực hiện một trò đùa vĩ đại, nhưng Keith Haring mới là người làm đảo lộn tình thế. Khi nghệ sỹ Graffiti này nhấc cọ khỏi những bức tường tại các ga tàu điện ngầm và trát đầy những bức tranh của anh những hình cartoon, anh đã thực hiện khá nhiều để cho chắc, nhưng anh cũng nêu lên một quan điểm: nghệ thuật dành cho tất cả mọi người; bạn có thể trả khá nhiều tiền nếu nó khiến bạn cảm thấy thời thượng, nhưng điều tuyệt vời nhất là nghệ thuật mang cả hai tính chất: tính xã hội và có thể tiếp cận được ở mọi mức độ.
Công việc của Haring đặt những vấn đề xã hội lên đầu trong khi ca ngợi tình yêu và tình yêu cuộc sống. Năm 1979 anh thiết kế, in và phân phát khoảng 20 ngàn poster chống đối hạt nhân ở Công viên Trung tâm. Bố cục sáng sủa, thường được nhận ra ngay bởi những người đã từng sống năng động trong thập kỷ 1980, mô tả những hình người được vẽ viền, không phân biệt chủng tộc và giống, những hình người mang trên mình rất nhiều màu sắc tươi sáng. Hình người của anh dường như đang nhảy múa dù đó là thời điểm suy sụp của nền văn minh và các chính sách chính trị của kỷ nguyên Reagan (vẫn chỉ tay vào Liên Xô và gọi đó là “Đế chế Đen tối” và hoàn toàn làm ngơ trước sự tấn công của thảm họa AIDS). Ca ngợi với mục đích ngợi ca trở thành một thông điệp mang nặng tính chính trị.
Haring bắt đầu vẽ những hình cartoon từ khi còn nhỏ, nhưng anh cảm nhận “sự khác biệt giữa một người vẽ hoạt hình và trở thành một nghệ sỹ" Trong một nỗ lực trở thành một công dân có trách nhiệm, Haring đăng ký học trường mỹ thuật ứng dụng. nhưng sớm nhận ra rằng vẽ biển quảng cáo cũng có nghĩa là kết thúc con đường nghệ thuật của chính bản thân mình, nên anh đã bỏ học.
Những tác phẩm đầu tiên của anh có bố cục nhỏ với những hình trừu tượng liên tưởng; sau khi xem một thứ nghệ thuật tương tự thế trong một triển lãm thành tựu của Pierre Alechinsky, anh bắt đầu thực hiện những bức vẽ lớn hơn. Haring trở nên thích thú với nghệ thuật ở các địa điểm công cộng sau khi tham dự một bài giảng của Christo - một nghệ sỹ Môi trường. Anh nhận ra rằng "nghệ thuật có thể đến với tất cả các loại người, trái với quan điểm truyền thống, coi nghệ thuật là một thứ cao cấp nhất."
Haring đã cam kết thực hiện nghệ thuật của mình dành cho công chúng, càng nhiều người càng tốt. Anh vẽ những bức tranh với các thông điệp chống lại việc sử dụng ma túy trên tường của các tòa nhà và ga xe điện ngầm, và sản xuất hàng loạt những thứ đồ trang sức lạ mắt với những hình đặc trưng của anh. Đối với Haring, không có sự khác biệt giữa tranh vẽ mà anh thực hiện miễn phí với thứ nghệ thuật mà anh bán với giá hàng ngàn đô la. Ngay sau khi biết mình mắc bệnh AIDS, anh kiếm được cả đống tiền nhờ vào tài sản nghệ thuật của mình, và sử dụng tiền cũng như danh tiếng để thành lập Keith Haring Foundation, một tổ chức phi lợi nhuận được thiết kế để cung cấp trợ giúp cho những tổ chức phi lợi nhuận khác thông qua việc bán các tác phẩm của anh.
-------------------------------------------------------------------------------

Mona Hatoum
(1952 - nay)
Sinh tại: Beirut, Li băng
Làm việc: London, Anh Hai con vật lớn -- những gì còn lại của một đôi súc vật đã bị lột da và moi ruột -- được treo một cách mời chào trước cửa một cửa hàng địa phương vào một ngày đẹp trời. Đối với những người chưa từng được đào tạo trong lò mổ hoặc làm nghề xẻ thịt, cảnh tượng này có thể gợi nên ít nhất là một chút tò mò và có thể là một cảm giác ghê tởm. Cảnh tượng này đặc biệt hấp dẫn bởi vì, những con vật, sau khi đã bị lột da và moi hết nội tạng, khiến chúng ta nhớ đến một màn hành hình kiểu Lyn-sơ đối với những người da đen trước đây. Chúng bị treo một cách ngang ngược chống lại trọng lực như thể chúng có quyền chính đáng đối với không gian mà chúng chiếm giữ. Chúng được đặt vào đằng trước của tấm ảnh "Carcasses"của Mona Hatoum giống như những viên lính gác bên ngoài những cánh cửa mở rộng. Trách nhiệm của chúng? Để làm rõ ràng cái không gian mà chúng không chiếm giữ.
Hatoum, sinh tại Beruit nhưng đã sống và làm việc ở London từ năm 1975, đã thực hiện những tác phẩm trình diễn, video art và điêu khắc một cách năng nổ kể từ những năm đầu thập kỷ 1980. Dù sử dụng những hình thức đẹp mắt, mà đập vào mắt người xem là những hình, vật, màu sắc và cách sử lý không gian quen thuộc, nhưng sự quan sát kỹ càng chúng sẽ để lộ ra sự phức tạp sâu sắc. Tác phẩm sắp đặt "Socle du Monde" của cô năm 1992-93, chỉ đơn giản là những hình khối lập phương đặc màu đen khiêm tốn và gần gũi. Nhưng khi người xem tiếp cận nó gần hơn, tác phẩm để lộ bản thân nó như một mạng liên kết của những tập hồ sơ bằng sắt thép, gắn vào một cái giá đỡ hình tháp bằng nam châm. Như vậy, tác phẩm được cảm thụ đến hai lần, lần đầu, như là một cái gì đó quen thuộc và có thể nhận ra, sau đó lại như là một thế giới được sắp xếp trước phức tạp hơn của những vật liệu có tính tương tác lẫn nhau và những kiểu mẫu mang tính thị giác phức tạp. Sự tò mò này lại dẫn đến sự tò mò khác, sự kiểm chứng này lại dẫn đến một sự kiểm chứng khác: tác phẩm này sinh sản giống như một vật thể sống.
Hatoum sử dụng cùng một kỹ thuật đó trong tác phẩm năm 1995 "Hair Necklace," trong đó một chuỗi hạt đeo cổ lớn màu nâu vô hại lại biến thành một sản phẩm mê tín được tổng hợp từ gỗ, da và tóc người. Cô sử dụng thủ thuật này nhiều lần nữa trong các tác phẩm nổi tiếng khác, chẳng hạn, tác phẩm thực hiện năm1994 "Corps étranger." Tác phẩm video-installation nhấn chìm người xem trong một không gian với cảm giác sợ mình sẽ bị giam giữ trong một không gian tràn ngập những hình ảnh không thể nhận ra được và những âm thanh kỳ lạ. Phải mất một lúc để nhận ra rằng những âm thanh đó thực ra là những âm thanh được ghi lại từ nội tạng bên trong của con người, và những hình ảnh đó những ảnh chụp nội soi của chính nghệ sỹ.
Hatoum kéo chúng ta vào trong những mối liên hệ không dự tính trước bằng các tác phẩm của cô. Những cái quen thuộc trở nên lố bịch, kệch cỡm, và những cái lố bịch đó, tự nó lại trở nên gần gũi. Hatoum tôn vinh một sự thật tinh tế là dường như những vật bền vững đều có xu hướng trở thành một cái gì đó hoàn toàn khác.
-------------------------------------------------------------------------------

Damien Hirst
(1965 - nay)
Sinh tại: Bristol, Anh
Làm việc: New York, Mỹ / London, Anh
Damien Hirst là một chàng trai chính thức và tiêu biểu trong Nhóm những nghệ sỹ trẻ Anh quốc. Trong khi học một chương trình nghệ thuật tại trường đại học nổi tiếng Goldsmiths College London, anh đã thai nghén và tự tổ chức triển lãm cho riêng mình, "Freeze." Charles Saatchi, trùm tư bản ngành quảng cáo và nhà sưu tập nghệ thuật đã chú ý đến triển lãm này và bắt đầu mua những tác phẩm của Hirst. Ông ta đã đặt Hirst vào ánh đèn sân khấu khi triển lãm cho anh trong cuộc triển lãm đầu tiên của "Young British Artists". Năm 1992, ông ta đặt Hirst thực hiện tác phẩm "Sự bất khả tự nhiên của sự chết trong tâm trí của một người đang sống" với $32,000. Kết quả đó là một hàm cá mập dài 14-foot.
Hirst sử dụng xác động vật ngâm trong dung dịch formaldehyde ("nghệ thuật ngâm," như anh mô tả nó) để truyền tải một cách kích thích của những chủ đề cổ điển như cuộc sống và cái chết. Những tác phẩm gây tranh cãi của anh đã làm bật lên những phản kháng từ chính phủ cũng như công chúng. Năm 1994, tác phẩm của anh bị cấm bởi cả Sở Y tế thành phố New York (họ quan tâm đến "mùi và chất lỏng tạo ra từ quá trình thối rữa") và Sở Nông nghiệp Hoa kỳ. Năm 1995, tác phẩm, "Two F******, Two Watching," bị cấm bởi các quan chức y tế New York với lý lẽ "nó có thể gây ra nôn mửa ngay lập tức hoặc phản ứng nôn mửa dây chuyền cho người xem."
Phản ứng với "bản chất cơ học nhưng ngẫu nhiên của việc sản xuất nghệ thuật," Hirst hăng hái tìm kiếm để đạt được tính ngẫu nhiên trong những bức tranh quay của anh (những vết màu không có hình dạng được tạo ra bằng cách đổ sơn lên những cái toan quay tròn). Hirst giải thích nguồn cảm hứng tạo ra những bức tranh của anh: "Mục đích là tạo ra một kiểu hoạt động mạnh của thị giác… nó đặc trưng cho tính đa dạng tối thượng của cuộc sống… và hiếm khi nỗ lực để liên lạc với nhau trong một hệ thống cứng nhắc." Hirst đã nhận được giải thưởng nghệ thuật danh giá nhất ở Anh, giải Turner Prize, năm 1995.
-------------------------------------------------------------------------------
David Hockney
(1937 - nay)
Sinh tại: Bradford, Anh
Làm việc: London, Anh - Los Angeles, CA, Mỹ
Không khí trầm lắng và tĩnh tại của một sân vườn sau nhà, thừa mứa với một cái bể bơi và sự hiện diện của những con người xinh đẹp – đó là nơi David Hockney trú ngụ. Ông cũng ở cả những ngôi nhà khác nữa, tất nhiên, nhưng ông chỉ cần ngồi bên bể bơi và nghiên cứu chuyển động của mặt nước, ngắm nhìn ánh sáng lướt nhẹ nhàng trên bề mặt của nó, và cảm nhận nỗi buồn trong chiều sâu của nó. Sống một thời gian dài ở L.A., Hockney biết rõ cảnh vật nơi này. Tranh của ông diễn tả thời gian mà ông ở đó, cảnh vật của những buổi chiều tĩnh lặng trong bầu khí quyển dầy đặc và ấp áp ở L.A.
Bên dưới ánh sáng và màu sắc của thành phố L.A trong tranh của Hockney, luôn có một cảm nhận về sự trống vắng, một sự tuyệt vọn ngấm ngầm, hay thậm chí một sự căng thẳng. Những cảnh bên bể bơi của Hockney có vẻ như quá điềm tĩnh, quá tĩnh lặng, quá dè dặt, mà thực ra, thể hiện những điều đó chẳng có gì khác hơn bề mặt của chúng. Sự cố đơn và lãng mạn toát lên từ những bức tranh này, nhưng chúng nói, từ chiều sâu của chúng – từ đáy của bể bơi, hay từ đằng sau những bức tường có vẻ như không thể xuyên qua được trong ngôi nhà của ông. Giống như kiến trúc hiện đại, tranh của Hockney gợi đến một sự rỗng tuyếch không phương hướng đằng sau bề mặt sáng sủa và sạch sẽ của chúng.
Đôi khi, bề mặt bị vỡ tan bởi một người nhảy ùm xuống bể bơi, như trong một bức tranh nổi tiếng của Hockney, "A Bigger Splash" (1967). Hockney chỉ vẽ những chùm nước màu trắng bắn lên từ mặt nước xanh biếc của bể bơi – chẳng có dấu hiệu nào của một người đang bơi. Chùm nước bắn tóe lên có vẻ như đã tháo gỡ được sự căng thẳng giấu mình trong những bức tranh khác của ông, chiếu ánh sáng hồi tưởng lên chúng, như thể đang che giấu một điều gì, chẳng hạn như một vụ nổ sắp xảy ra.
Từ chính sự căng thẳng đó mà Hockney tạo ra những yếu tố hài hước. Ấn tượng về những câu chuyện của Hockney đến từ chính sự che giấu chính cái ảnh hưởng đó. Bên dưới bề mặt tranh càng căng, thì bề mặt của nó càng rung động. Bạn có thể vừa lắc lư vừa cười thật thoải mái, mà không thể chỉ ra rằng, chính xác là điều gì khiến cho bạn thấy buồn cười như vậy. Sự dí dỏm của Hockney cũng đồng nghĩa với khả năng che dấu của ông; khiếu hài hước của ông chính là cái gắn những cái ông không hề vẽ ra với những cái ông vẽ: bạn có cảm giác rằng ông thực ra không cố gắng để tỏ ra hài hước.
Hockney cũng từng làm việc khá nhiều với nhiếp ảnh: ông đã thực hiện một sê-ri tranh dán giấy theo phong cách Lập thể cực kỳ tinh tế từ những bức ảnh chụp thời trang. Nhưng phong cách lập thể của Hockney, không giống với Picasso, chỉ trừu tượng một nửa. Ông biểu lộ những đường nối giữa các góc nhìn, trong khi vẫn thu xếp sao cho các góc nhìn này cùng ở trong một tổng thể. Dù sao, sự căng thẳng biểu lộ trong tranh của ông cũng lại nổi lên ở đây: cứ như thể cái bề mặt cố hữu trên mis on the brink of shattering. Những cạnh rìa giữa các bức ảnh giống như những đường thẳng kẻ sai, trembling với sức căng bên trong nó. Đó là một trò chơi giữa sự thanh bình và sự căng thẳng – và giữa bề mặt và chiều sâu – mà Hockney là một bậc thầy: tính hài hước của ông, sự dí dỏm của ông, và tính nghiêm túc của ông được khớp nối cùng lúc trong mọi thứ mà ông tạo ra.
-------------------------------------------------------------------------------
Rebecca Horn
(1944 - nay)
Sinh tại: Bonn, Germany
Làm việc: Berlin, Germany - New York, USA - Paris, France - London, Anh
Bà không phải là một người mới đến với thế giới nghệ thuật: nếu bạn đã từng biết đến bà, với mái tóc đỏ như lửa và cặp mắt sắc sảo, bạn sẽ không thể quên đi một cách nhanh chóng hình ảnh về bà, cũng như các công việc của bà.
Horn làm việc với nhiều chất liệu; các tác phẩm của bà thường sử dụng những động cơ nhỏ và các trục kéo-đẩy để tạo ra những chuyển động nho nhỏ. Tác phẩm "The Little Painting School Performs a Waterfall" (1988) của bà là một "thác nước" tạo ra bởi những bức tranh hình chữ nhật màu xanh cô-ban nổi trên tường của gallery -- "văng ra" cùng một thứ màu xanh cô ban đó, về phía tường, đằng sau những bức tranh nổi hình chữ nhật. Những cái chấm này ở trên tường, có vẻ như là "một diễn tiến" thực sự xảy ra trong khi những bức tranh hình chữ nhật có vẻ như là hiệu-ứng-diễn-ra-sau-đó. Mặc dù tác phẩm này không chuyển động, nó cũng mang tới cảm giác rằng nó chứa đựng và tiêu biểu cho một chu kỳ liên tục.
Cùng với những nghệ sỹ đương đại như Eve Andree Laramee và Jana Sternbach, những tác phẩm có sử dụng máy móc của Horn nói về cơ thể và sự định giới tính cho sáng tạo và khám phá. Những ý tưởng này là sự tiếp nối của Picadia và Duchamp và được chau truốt bởi thế giới quan của phụ nữ. Tác phẩm của Horn chứa đầy cảm xúc và không có nhân vật kể theo tuyến. Nó tập trung vào "những sự thật về con người", những thứ thường phù du trong những điều kiện tốt nhất và đưa ra một câu hỏi có tính tổng quát: "Ai làm nên sự thật trong nền văn hóa của chúng ta?"
Bản chất hàn lâm của các tác phẩm của Horn được làm rõ bởi một cái hiểu tối thiểu về "point" (điểm) trong công việc của bà - và cùng với nó là "fresh" (sự tươi mới), cái mà người ta không cần phải quan tâm đến những ngụ ý của chúng.
-------------------------------------------------------------------------------
Gary Hume
(1962 - nay)
Sinh tại: Kent, Anh
Làm việc: London, Anh
Việc sử dụng sơn tường thông thường của Hume và cách kết hợp màu sắc của anh tạo ra những tác phẩm độc đáo và đảo lộn. Những bức tranh có vẻ tương đồng với giấy dán tường, với những đóa hoa lớn và các thể loại ảo thị giác, khi anh sử dụng những khối màu lớn để thể hiện hình ảnh bóng đổ. Tên tranh thực sự chỉ đem lại một vài gợi ý về ý nghĩa của bức tranh, nhưng một khi bạn ngắm nhìn chúng một cách thích thú, bạn sẽ nhận ra ngay chủ đề của nó.
Tác phẩm "Four Feet in the Garden" (1995) tương tự như một dấu chữ thập giữa một cuộc kiểm tra Rorschach* và hình ảnh nối tiếng của hoặc là một người phụ nữ trẻ đội chiếc mũ gắn lông rộng vành hoặc là một mụ phù thuỷ già nua, tùy thuộc bạn đang chú ý đến cái gì trước. Những bàn chân và ống chân màu xanh hoa ngô trượt ngang qua một nền màu đen: bởi cái sự căng tồn tại giữa các màu sắc, nên bạn phải mất một khoảng thời gian để nhận ra cái chủ đề sáo rỗng liên quan của nó.
Trong một tác phẩm khác, "Falling" (1995), Hume cố ý hướng đến trừu tượng, một lần nữa sử dụng những sắc độ không xuất hiện trong vòng quay màu sắc. Các diễn tả cực kỳ đơn giản một đôi tay đang đan vào nhau -- chắc hẳn của một người đang cầu nguyện hoặc chìm đắm trong suy tư –- được thực hiện một cách duyên dáng và tao nhã. Hình bóng tế nhị của nó chỉ cung cấp vừa đủ thông tin để khiến cho hình ảnh trở thành một điểm vô định hình.
Quay lại trước đó vài năm, xem lại những bức "tranh nước" của nhiều người khỏa thân trong nhiều tư thế, và rất khó tin rằng đó là những tác phẩm của cùng một nghệ sỹ. Sự thuyết phục về màu sắc vẫn còn đó, nhưng sử dụng những đường thẳng cực kỳ đơn giản, hơn là việc dùng những khối màu, hoàn toàn trái ngược với tác phẩm "Four Feet." Anh có vẻ như đã khắc ngay trên bề mặt màu sắc để tạo ra những đường thằng mảnh màu trắng biểu hiện chủ đề của anh. Trong nhiều trường hợp, Hume nói, anh muốn khám phá "không gian chuyển: những liên hệ giữa các không gian mà không chỉ là bản thân các không gian đó."
Những bức tranh đầy màu sắc này về những bộ phận cơ thể và những hình ảnh của văn hóa POP tạo thành pha thứ hai trong công việc của Hume. Pha thứ nhất, diễn ra cho đến năm 1993, bao gồm những bức tranh tương tự như những cánh cửa -- giống như những cánh cửa quay trong các bệnh viện. Những cái cổng được thể hiện bằng chất men bóng trên những tấm nhôm, cùng một loại vật liệu mà anh dùng trong pha thứ hai. Vì anh đi từ nghệ thuật ý niệm đến nghệ thuật biểu hình, Hume đã cố gắng giữ lại một số giá trị thuần khiết, luôn thực hiện những bức tranh của anh với một bề mặt đẹp và trong suốt, đã luôn nêu ra những nghi vấn về bản chất của trang trí.
*kiểm tra Rorschach (Rorschach test): một kiểm tra về trí thông minh và tính cách trong đó thí sinh giải thích 10 mẫu thiết kế dấu mực đen/màu tiêu chuẩn để thể hiện các yếu tố về học thức và tình cảm, còn gọi là Rorschach inkblot test
-------------------------------------------------------------------------------
I.
-------------------------------------------------------------------------------

Toshio Iwai
(1962 - nay)
Sinh tại: Nagoya, Nhật bản
Làm việc: Karlsruhe, Đức / San Francisco, CA, Mỹ / Ogaki, Nhật bản Những đứa trẻ chạy thật nhanh đến trước TV, mong mỏi trông chờ buổi phát sóng chương trình truyền hình "UgoUgo Lhuga". Trong khi cha mẹ chúng xem chương trình đó với nhiều băn khoăn, thì những trẻ ngồi với những cái điện thoại di động đã bấm sẵn nút gọi. Hai đấu sỹ sumo xuất hiện trên màn hình và chuẩn bị cho một trận đấu. Những đứa trẻ bấm điện thoại và ra lệnh cho những đô vật hành động bằng giọng nói của chúng. Đó là buổi bình minh của phim hoạt hình tương tác: từ giờ trở đi, sự giải trí của những đứa trẻ sẽ đặt chắc chắn trong chính bàn tay của chúng.
"UgoUgo Lhuga" được thiết kế bởi Toshio Iwai, một nghệ sỹ media tương tác và là một hình ảnh được tôn thờ bởi thế hệ của mình ở Nhật bản. Iwai đã đưa tính tương tác ở một mức độ cao hơn vào lĩnh vực trò chơi video. Trò chơi "SimTunes" của anh có sự chia xẻ hợp lý giữa súng ống và phưu lưu, nhưng người chơi cũng có thể tạo ra âm nhạc và môi trường của chính họ. Như nhà sản xuất của trò chơi nhận xét, "[Iwai] đã thực hiện một sự kết hợp của một con mắt tao nhã và thẩm mỹ cùng với sự hiểu biết sâu sắc của anh về công nghệ." Về phần mình, Iwai vẫn luôn cho rằng công nghệ không được chiếm lĩnh cuộc sống của chúng ta mà không sử dụng những phẩm chất độc đáo có một không hai của nó để phục vụ cho nghệ thuật.
Iwai đã sử dụng kỹ thuật số để thực hiện hầu hết mọi thứ, từ phim hoạt hình dành cho trẻ em, trò chơi vi tính, thiết kế phần mềm, các tác phẩm nghệ thuật dành cho gallery và nghệ thuật trình diễn. Tuy nhiên, anh nói, "Tất cả các công việc của tôi bắt đầu với hoạt hình trên vi tính và sẽ không bao giờ đi quá xa khỏi nó." Sinh năm 1962, anh đã hoàn thành một khóa học thạc sỹ về Plastic Art và Mixed Media tại trường Đại học Tsukuba năm 1987. Kể từ đó, anh đã tham gia nhiều chương trình artist-in-residence ở nhiều nơi, từ Đức, Mỹ đến Nhật bản.
Iwai đặc biệt bị hấp dẫn bởi sự tương tác giữa hình ảnh và âm nhạc. Năm 1987, anh thực hiện một tác phẩm trình diễn cùng với nhà soạn nhạc và nhạc công dương cầm được giải thưởng Ryuichi Sakamoto trong những căn nhà chật kín người xem. Tác phẩm có tên: "Music Plays Images X Images Plays Music" với Sakamoto chơi đàn dương cầm và một Iwai sử dụng chuột gần một hàng máy vi tính. Khi âm nhạc của Sakamoto tràn đầy căn phòng, những hình ảnh bắt đầu nhảy múa qua một màn hình rộng 60-foot treo ngay trước mặt những người trình diễn. Sử dụng ánh sáng, đèn chiếu, và đồ họa, Iwai tạo ra những hình ảnh thị giác tương tác với âm nhạc. Về phần mình, Sakamoto đáp lại những hình ảnh được chiếu trên màn hình trước mặt. Tác phẩm trình diễn là một sự cộng sinh mới giữa nghệ thuật tạo âm thanh và nghệ thuật thị giác.
Một người hâm mộ cho rằng Iwai là người thích hợp nhất cho việc thiết kế bạn tình cho quái vật của Frankenstein. Trong mỗi lĩnh vực mà anh có tham gia, anh tạo ra những thể loại lai tạp non nớt mà nó biến đổi và sinh sôi thành vào trong các hình thức nghệ thuật nguyên gốc. Trong kỷ hậu hiện đại, khi mà mọi đường biên giới có vẻ như ít ý nghĩa, quan điểm nghệ thuật của Iwai có thể thấy trước được một cách khá riêng biệt.
J.
-------------------------------------------------------------------------------
Jasper Johns
(1930 - nay)
Sinh tại: Augusta, Georgia, Mỹ
Làm việc: New York, Mỹ
Sinh năm 1930 ở Augusta, Georgia, Jasper Johns lớn lên ở South Carolina. Ông đã tham gia quân đội và đóng quân ở Nhật. Từ năm 1949 đến năm 1951, ông học tại trường đại học Nam Carolina, bang Columbia, và từ năm 1952 đến năm 1958, ông làm việc cho một hiệu sách ở New York. Ông cũng trưng bày các tác phẩm của mình cùng với Robert Rauschenberg tại Bonwit Teller và Tiffany.
Năm 1954 ông vẽ lá cờ đầu tiên. Năm 1958, triển lãm solo đầu tiên được thực hiện tại Leo Castelli Gallery, New York và được giới thiệu tại Venice Biennale cùng năm đó. Bức tranh "Grey Numbers" cũng nhận được Giải thưởng Quốc tế ở Pittsburgh Biennale. Năm 1959, ông triển lãm chung cùng với Rauschenberg ở triển lãm "Happening Eighteen Happenings in Six Parts" Của Allan Kaprow. Ông cũng được lựa chọn cho triển lãm "Sixteen Americans" cùng năm đó được tổ chức tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại.
Năm 1960, Johns bắt đầu làm việc với các bản khắc đá. Năm 1961 ông vẽ một bức tranh bản đồ cỡ lớn và đến Paris để triển lãm tại Galerie Rive Droite. Năm 1964 một triển lãm tôn vinh sự nghiệp nghệ thuật được tổ chức dành cho ông tại Bảo tàng Jewish Museum, New York với một catalog bao gồm những bài viết của John Cage và Alan Solomon. Ông cũng đại diện cho nước Mỹ tại Venice Biennale năm đó.
Năm 1965 ông có một triển lãm tôn vinh thứ hai tại Pasadena Art Museum, tổ chức bởi Walter Hopps. Trong năm đó, ông đã xem một triển lãm của Duchamp và nhận được giải thưởng tại Triển lãm quốc tế lần thứ 6 Nghệ thuật đồ họa, Ljubljana, Nam Tư. Năm 1966 ông có một triển lãm cá nhân ở National Collection of Fine Arts, Washington, bày những bức tranh giấy. Năm 1967 ông thuê một gác xép ở phố Canal và vẽ bức Harlem Light sử dụng "tile motif". Ông cũng minh họa cuốn thơ của Frank O'Hara với tựa đề "Trong ký ức của những cảm giác của tôi".
Ông đã là Tư vấn Nghệ thuật cho nhạc sỹ John Cage và Nhóm múa của Merce Cunningham cho đến năm 1972, cùng với Robert Morris, Frank Stella, Andy Warhol và Bruce Naumann. Trong năm đó ông đại diện cho nước Mỹ tại Documenta "4", Kassel, thiết kế trang phục cho Merce Cunningham trong tác phẩm "Walkaround Time" và làm việc 7 tuần tại nhà in Gemini G.E.L., Los Angeles. Năm1973 ông gặp Samuel Beckett ở Paris. Ông chuyển đến sống tại Stony Point, N.Y.
Triển lãm thành tựu nghệ thuật tại Bảo tàng Whitney Museum of American Art, New York, được tổ chức dành cho ông năm 1977, và trưng bày trong năm 1978 tại Bảo tàng Museum Ludwig, Cologne, Museé National d'Art Moderne, Paris, Hayward Gallery, London, và Seibu Museum of Art, Tokyo. Ông cũng tham gia Venice Biennale năm 1978. Vào năm 1979, một triển lãm về các tác phẩm đồ họa của ông được tổ chức bởi Kunstmuseum Basle và được đưa đi trưng bày khắp châu Âu. Năm 1988 ông được tặng thưởng "Grand Prix" tại Venice Biennale.
-------------------------------------------------------------------------------
Asger Jorn
(1914 - 1973)
Sinh tại: Vejrum, Jutland, Đan mạch
Làm việc:
Asger Jorn có tên khai sinh là Asger Oluf Jurgensen, sinh tại Vejrum, Jutland, Denmark, vào ngày 3 tháng Ba năm 1914. Ông đến Paris vào mùa thu năm 1936, khi ông đang học tại trường Nghệ thuật Đương đại của Fernand Léger. Trong chiến tranh, Jorn ở lại Đan mạch, vẽ những bức tranh phản ánh sự ảnh hưởng của James Ensor, Vasily Kandinsky, Paul Klee, và Joan Miró và làm việc cho tạp chí
Helhesten.
Jorn đến vùng Lapland của Thụy điển vào mùa hè năm 1946, gặp Constant ở Paris mùa thu năm đó, và ở 6 tháng tại Djerba, Tunisia, trong năm 1947–48. Triển lãm cá nhân đầu tiên của ông ở Paris được tổ chức năm 1948 tại Galerie Breteau. Cùng thời điểm đó, nhóm COBRA (tên viết tắt của Copenhagen, Brussels, Amsterdam) đã được thành lập bởi Karel Appel, Constant, Corneille, Christian Dotremont, Jorn, và Joseph Noiret. Nguyên tắc được thống nhất của nhóm là tự do hoàn toàn trong biểu hiện với sự nhấn mạnh vào màu sắc và nét cọ. Jorn soạn thảo một bộ sách chuyên khảo về nhóm Cobra trước khi tự tách mình khỏi nhóm.
Năm 1951 Jorn trở lại quê hương Silkeborg ở Đan mạch, nghèo túng và bệnh tật. Ông bắt đầu thực hiện những tác phẩm gốm vào năm 1953. Năm tiếp theo, ông định cư tại Albisola, Italy, và tham gia vào sự tiếp nối của COBRA được gọi là "Mouvement International pour un Bauhaus Imaginiste". Hoạt động của Jorn bao gồm tranh, tranh cắt dán, minh họa sách, in, tranh vẽ, gốm, trang trí thảm, vẽ tranh tường, và trong những năm cuối đời, điêu khắc. Ông tham gia vào trào lưu Situationist International từ năm 1957 đến 1961 và nghiên cứu về nghệ thuật cổ đại vùng Scandinavia trong khoảng thời gian giữa năm 1961 đến năm 1965. Nửa sau của thập kỷ 1950 Jorn chia xẻ thời gian của ông giữa và Albisola. Triển lãm cá nhân đầu tiên của ông ở New York được thực hiện năm 1962 tại Lefebre Gallery. Từ năm 1966 Jorn tập trung vào tranh sơn dầu và thường xuyên đi du lịch, Cuba, Anh quốc và Scotland, nước Mỹ và cả phương Đông. Jorn qua đời ngày 1 tháng Năm, 1973, tại Aarhus, Đan mạch.
-------------------------------------------------------------------------------