E.
--------------------------------------------------------------------------------
Tracey Emin
(1963 - nay)
Sinh tại: London, Anh
Làm việc: London, Anh
"Tôi thực sự không thể tiếp tục sống với những cái đó trong bản thân tôi" Emin từng nói và bắt đầu rắc những vết nhơ trong quá khứ hấp dẫn của cô và trưng bày nó nguyên bản. Công chúng nói chung đều thấy Emin trưởng thành trong một trào lưu rất thời trang. Cô đã công khai cuộc sống của mình kể từ năm 1993, thời điểm diễn ra cuộc triển lãm đầu tiên của cô tại Khách sạn Hotel Carlton Palace ở Paris và các gallery khắp châu Âu và New York.
Emin đã chia sẻ mọi thứ, từ những cái tampon đã qua sử dụng và bộ thử thai đến những tấm drap trải giường bẩn thỉu và đồ lót đã qua sử dụng – và đã từng vào được danh sách ngắn những nghệ sỹ được đề cử cho giải thưởng danh giá 1999 Turner Prize. (Steve McQueen cuối cùng là người chiến thắng.) Cùng với những đồ vật tìm được, cô cũng đã làm những tấm thảm thêu với những đoạn văn và hình ảnh mà cô gọi là cuộc sống "psyco" [sic], bao gồm cả lần cô bị hiếp dâm khi mới 13 tuổi và nhiều bạn tình của cô khi còn là một cô gái dưới 20 tuổi. "Mọi người mà tôi đã từng ngủ cùng 1963-1995" Đóng góp của Emin cho triển lãm nổi tiếng "Sensation" là một tấm đệm bên trong một cái lều. Emin may đắp vải tên của những người yêu cũ của cô lên trên nền hoa của cái lều, được chiếu sáng giống như trong các điện thờ từ bên trong. Emin thậm chí đã từng đi xa đến mức sử dụng một mảnh thai bị nạo bỏ của cô trong một tác phẩm. Cô phân phát nghệ thuật "thú nhận" này, được gán cho cái tên "nghệ thuật loạn trí" với một sự hài hước và khoa trương khiến nó cứ lởn vởn xung quanh những sự biến dạng.
Do cô đã tiến gần đến tuổi 40 và có một mối quan hệ rất hạnh phúc với người bạn nghệ sỹ Mat Collishaw, Emin đã từng đặt ra vấn đề về khả năng giữ biên độ của cô. Thậm chí những tác phẩm quá thể hơn của cô cũng đã nhận được những đón nhận xáo trộn trong giới phê bình. Một số nhà phê bình đã buộc chúng vào chủ nghĩa duy ngã và tự quá yêu bản thân mình, những nhà phê bình khác như Stefanie Syman của Feed đã lại rất ngưỡng mộ Emin bởi cô đã "làm cho công chúng băn khoăn về mặt hóa học, ở đâu những vật hết sức bình thường lại trở nên vượt trội, hay làm thế nào mà bạn có thể làm cho những điều rất bình thường trở thành nổi trội. Bằng việc trưng bày đồ thải của chính mình, một cách nào đó, cô làm cho nền văn hóa nổi danh quay ngược trở lại."
--------------------------------------------------------------------------------
Tirtza Even
(1963 - nay)
Sinh tại: Israel
Làm việc: New York, Mỹ
Tirtza Even vừa là một nhà làm phim tài liệu vừa là một nghệ sỹ video. Cô tổng hợp những tương phản giữa tài liệu và nghệ thuật và những sự thực mà nó mô tả. Kết quả, những bộ phim tài liệu của cô cho thấy những câu chuyện đặt ra những vấn đề tranh cãi, nằm dưới không chỉ nền văn hóa của chúng ta, mà thậm chí là những kinh nghiệm của chúng ta về không gian.
Even đã cộng tác trong rất nhiều tác phẩm khám phá chủ đề này. Cô là đồng đạo diễn phim "Kayam Al Hurbano" (1999) với Bosmat Alon, một bộ phim về cuộc sống tại một trại tị nạn Palestine, mà đã pha trộn phong cách làm phim tài liệu với "suy đoán tưởng tượng" và nó đã được chiếu tại triển lãm Whitney Biennial 2002, Ami Steinits Gallery ở Israel, tại sự kiện "Video of the Millennium" (video của thiên niên kỷ) tổ chức tại Anh, Bảo tàng Do thái Sienna ở Italy, và liên hoan [d]vision 2000 ở Áo. Bộ phim đã nhận được giải nhất trong cuộc thi tại L'immagine Leggera Festival ở Palermo, Italy, và một đĩa CD-ROM và một trang Web liên quan được gọi là "Occupied Territory" (lãnh thổ bị chiếm đóng)(2000) đã được giới thiệu tại Postmasters Gallery ở New York.
Những tác phẩm và chủ đề khác của cô gồm có: "Slip" (2001), một tác phẩm video về những người vô gia cư ở Atlanta, Georgia, "CityQuilt" (1995) và "Rural" (1997), cả hai đều là những tác phẩm có tác động lẫn nhau ở thành phố New York và vùng nông thôn của nước Mỹ. "Far, Along" (2001) chiếu những cảnh về một nước Đức hiện đại với những ký ức đan xen của những người phụ nữ Do thái và Đức, trong khi "Pan" (1995) kiểm chứng khái niệm về "sau màn ảnh như một không gian vật lý tích cực tồn tại giữa hai phần của một hình ảnh liên tiếp" Gần đây nhất "Women Only" là một tác phẩm đang thực hiện về thước đo văn hóa của việc mang thai.
Công việc của Even được thấy ở Mỹ, Israel, và South Africa, cũng như hàng loạt các nước khác ở Châu Âu. Cô đã giảng dạy về video art và những phương tiện mới tại nhiều trường đại học, và hiện đang giữ vị trí Trợ giảng tại cả trưởng Columbia University và New York University. Khởi đầu từ Israel, Even đã nhận được một học bổng theo chương trình Fulbright, và tại trường Tisch School of the Arts - New York University, cô đã hoàn thành hai học vị Thạc sỹ - một về nghiên cứu điện ảnh, với đề tài Sản xuất phim tài liệu và dân tộc học và Lý thuyết, một bằng về Chương trình viễn thông tương tác
Những học bổng và giải thưởng được trao cho nghệ sỹ bao gồm một Golden Gate Awards Certificate of Merit (2002) (bằng khen) tại Liên hoan phim quốc tế San Francisco, một giải thưởng Media Arts Award (2000) của Tổ chức Jerome Foundation ở New York, cũng như tài trợ của Quỹ Finishing (1996, 1998) và một học bổng Residency (2000) tại Trung tâm thử nghiệm truyền hình ở New York.
--------------------------------------------------------------------------------
F.
--------------------------------------------------------------------------------

Omer Fast
(1972 - nay)
Sinh tại: Jerusalem, Israel
Làm việc: New York, Mỹ
Đôi khi chúng ta muốn nói chuyện lại với TV. Omer Fast không chỉ nói chuyện lại, anh huýt sáo, huýt gió, chép môi, và chặc lưỡi. Văn hóa đại chúng tạo ra phần lớn hiện thực của chúng ta, chũng như vốn từ mà chúng ta sử dụng để nói về nó, và để nói chuyện lại với nó. Đối với Fast, video không chỉ là chất liệu mà anh sử dụng, nó còn là chủ thể trong nghệ thuật của anh.
"Glendive Foley," – tác phẩm được xem rộng rãi nhất của Fast, đã từng được chiếu tạo Momenta Art ở Brooklyn (2000), P.S.1 ở quận Queens, NY (2000), và tại triển lãm 2002 Whitney Biennial ở New York. Tác phẩm là một video hai kênh; một kênh chiếu quang cảnh phía trước của những ngôi nhà ở Glendive, Montana. (Cũng chẳng ngẫu nhiên mà Glendive là một thị trường TV nhỏ nhất ở Mỹ.) Kênh kia chiếu một bản nhạc do Fast sản xuất chỉ sử dụng miệng và tay của anh.
Fast nói: "bằng việc tổng hợp lại một cách sáng tạo những tiếng bắt chước tiếng gió, tiếng kêu của các loài côn trùng, tiếng chim hót, tiếng chó sủa, tiếng máy cắt cỏ, và đôi khi là tiếng của những chiếc xe đi ngang qua, thanh âm cuộc sống của vùng ngoại ô được tạo ra, mà đó là sản phẩm thực hiện từ cổ họng của một người,". Và có lẽ, tạo ra một trải nghiệm vừa mang tính cá nhân, tập trung, và đôi khi cá nhân hóa những cái luôn được coi là chẳng thuộc về cá nhân người nào. Điều này gợi đến cuộc đấu tranh sinh tồn của một người nhập cư -- Fast nhập cư từ Israel – hòa nhập với nền văn minh Mỹ
Một tác phẩm khác của anh được triển lãm trong triển lãm năm 2000 tại P.S. 1 là "T3-AEON," trong đó Fast thay thế phần nhạc của bộ phim "Terminator." Trong một băng video cho thuê. Những bản sưu tập cá nhân bởi các thành viên gia đình Fast được lồng tiếng trên những cảnh bạo lực nhất trong bộ phim. Bộ phim và những bản được sưu tầm lại đó cùng tồn tại theo một cách ít trông đợi nhất, nhiều tính cộng sinh cũng như tính tương phản. Mọi người ở P.S.1, những người được quyền đem những cuốn băng video đó về nhà để xem, đã được báo trước về nội dung của nó. Những bản khác được trả lại cho cửa hàng video mà không có nhãn báo trước nội dung, và do dó, đã tiếp cận được với một đối tượng khách hàng rộng hơn, những người không hề nghi ngờ và phản ứng của họ là một bí mật, không thể khám phá. Fast tổ chức thực hiện triển lãm "Fido Television" tại gallery của Hunter College vào năm 2000, một triển lãm đã đưa các nghệ sỹ có cùng một mối quan tâm đến với nhau, những người sử dụng các công cụ của TV để "nói lại" nó. ("Fido" là tên gọi của những đồng xu có lỗi khi đúc) Công việc của Fast cũng đã được trưng bày như một phần trong triển lãm "Death Race 2000" tại Thread Waxing Space ở New York. "Breakin' In A New Partner," là triển lãm năm 2001 của anh được thực hiện tại Boston Museum of Fine Arts, thay thế toàn bộ nhạc của "Lethal Weapon" với những tác phẩm được chế lại của Fast. Giống như "Glendive Foley," nó được chiếu trên hai kênh để làm nổi bật sự can thiệp của Fast.
Omer Fast có bằng BFA từ trường Boston Museum School of Fine Arts và một bằng MFA về Media Tổng hợp từ Hunter College - Trường Đại học New York.
--------------------------------------------------------------------------------

Lucian Freud
(1922 - nay)
Sinh tại: Berlin, Đức
Làm việc: London, Anh
Trong khi giới phê bình tranh cãi về việc liệu Lucian Freud có thừa hưởng tính sắc sảo trong phân tích tâm lý của người ông nội Sigmund, một nghiên cứu nhanh các bức tranh khỏa thân của ông khẳng định rằng ông chắc chắn có thừa hưởng khuynh hướng đó khi mời những người con gái xinh đẹp nằm xuống trước mặt ông.
Lucian Freud sinh tại Đức và nhập cư vào Anh, từng học tại Central School of Arts and Design ở London. Những tác phẩm thời kỳ đầu thể hiện một quan điểm giải phẫu học chính xác và một sự lưu tâm đến độ sáng của da thịt -- những yếu tố khiến giới phê bình xác định ông như một nhà Hiện Thực Mới. Trong thập kỷ 1950, Freud phát triển một phong cách vẽ đắp cho thấy ông quan tâm hơn đến chất lượng biểu hiện của sơn hơn trong tranh, như một phương tiện để khám phá tâm lý nhân vật.
Trong khi nghệ sỹ cùng thời Francis Bacon mô tả niềm đau thẳm sâu của các đối tượng của ông bằng cách làm tan chảy và nổ tung hình ảnh của họ, Freud đưa ra một khoảng trống và sự tĩnh tại, cũng không hẳn là từ chối hoàn toàn việc mô tả tâm lý nhân vật, nhưng là một sự khẳng định của sự khuyết vắng tính cá nhân. Trong tranh của Freud, hình người được mô tả, không phải để ca ngợi. Thân thể là một đối tượng, và nếu những người khỏa thân của ông vẫn có bất kỳ dấu tích nào của chủ nghĩa nhân văn, đó là bởi vì chúng thuộc về lịch sử lâu đời của thể loại tranh khỏa thân, ca ngợi vẻ đẹp của con người. Trong tác phẩm "Blonde Girl on a Bed" (1987), thân hình khỏa thân đắp nổi chiếm hữu toàn bộ bức tranh, trong khi khuôn mặt, bị tay cô che khuất một phần, chìm vào trong lớp nền giữa. Giới phê bình yêu thích xem xét tác phẩm của ông dưới những lăng kính phân tích tâm lý, và một vài người khẳng định rằng những bức tranh của ông thể hiện bước cuồi cùng của một quá trình phân tích tâm lý. Freud, tuy nhiên, xem giới phê bình như một hình ảnh minh họa, "như tiếng kêu của một vận động viên quần vợt phát ra khi đánh bóng."
--------------------------------------------------------------------------------

Teiji Furuhashi
(1960 - 1995)
Sinh tại: Kyoto, Nhật bản
Làm việc: Kyoto, Nhật bản Không lâu sau khi chết bởi bệnh AIDS, tác phẩm video của anh "Lovers" đã được bảo tàng MoMA NY chọn để triển lãm chung cùng với những tên tuổi đã nổi tiếng như Gary Hill và Bill Viola. Kỳ công này, mặc dù rất gây ấn tượng, nhưng cũng khó mà đảo lộn thế giới -- nếu không biết đến một sự thật là, "Lovers" là tác phẩm cá nhân đầu tiên và cũng là cuối cùng của Teiji.
Teiji sáng tạo phần lớn những tác phẩm không phải của cá nhân bởi sự cống hiến của anh dành cho Dumb Type, một tập hợp các nghệ sỹ sống và làm việc ở Kyoto mà anh là đồng sáng lập viên. Đả phá truyền thống một cách nghiêm túc, nhóm nghệ sỹ này sống bên lề của các giai tầng xã hội và những tập tục của văn hóa Nhật bản -- từ sự tự đày ải bản thân này, họ nghiên cứu kỹ những tập quán của Nhật bản, văn hóa đại chúng, và những thứ được quá tôn sùng trong kỷ nguyên thông tin. Một trong những cương lĩnh của nhóm là các thành viên chỉ tham gia vào các hoạt động sáng tạo tập thể.
Đến một ngày, khi Teiji thấy cần phải sáng tạo một cái gì đó của riêng mình. Nhưng anh vẫn muốn để lại một tuyên ngôn rõ ràng của triết lý của Dumb Type. Anh cũng muốn khám phá những cảm xúc và những ý tưởng liên quan đến AIDS. Kết quả là "Lovers." Đối với Teiji, chủ đề tình yêu và tình dục đưa đến một lĩnh vực rộng lớn của sự tương phản. Tình yêu đã là nguồn khoái lạc, sự đáp ứng, và hòa hợp, nhưng cũng là một điểm khởi đầu cho những đớn đau và cái chết.
Tác phẩm video mô tả một đôi tình nhân trần truồng, trong ánh sáng mờ mờ và như bóng ma, có vẻ như chỉ lướt qua nhau. Họ không nói chuyện, (nếu hai người yêu nhau không nói chuyện, thế giới này sẽ thành thế nào đây?), nhưng họ thường xuyên dừng lại để ôm nhau. Họ không ý thức về nhau, chỉ dành cho những khoảnh khắc riêng tư rời rạc này. Sự kết nối giữa họ có vẻ như chỉ thuộc về cơ thể, chẳng khi nào thuộc về tinh thần hay tình cảm. Đó là một sự tưởng tượng đẹp đẽ và sởn gai ốc.
Làm việc với nghệ thuật trình diễn, múa, video art và tranh, Teiji là biểu tượng của sự nổi loạn nghệ thuật và tự do biểu hiện ở Nhật bản. Vai trò dẫn đầu của anh ở Dumb Type chuyển sang lĩnh vực chính trị -- anh trở thành một nhà hoạt động xã hội về nhận thức bệnh AIDS và cộng đồng những người đồng tính. Anh mới chỉ 35 tuổi khi qua đời.
--------------------------------------------------------------------------------
G.
--------------------------------------------------------------------------------
Gilbert & George
( - )
Sinh tại:
Làm việc: London, Anh Thông điệp của họ thật dứt khoát: "Chúng tôi muốn để trào ra máu, trí não và tinh dịch của chúng tôi trong cuộc sống của chúng tôi - tìm kiếm một ý nghĩa và mục đích mới cho cuộc sống." Mặc dầu khó có thể nói một ý nghĩa mới có thể là cái gì, nhưng hiển nhiên là Gilbert & George cho rằng họ có thể tìm thấy nó trong những chất liệu của cơ thể. Phân, nước tiểu, máu, tinh dịch, nước mắt -- bất kỳ cái gì mà cơ thể tiết ra hoặc bài tiết ra -- che đậy những những chân lý sâu sắc của sinh học. Nhưng những chân lý này không chỉ là của sinh học. Gilbert & George đào sâu nghiên cứu những chất thải của cơ thể để tìm kiếm những chân lý của tinh thần: những chất thải, họ tin rằng, chứa đựng những bản chất thần thánh. Dự án nghệ thuật của họ, vì thế, đã tiết lộ những bản chất này với thể giới. Như họ nói: "Chúng tôi không cố phản ánh xã hội; chúng tôi cố gắng để tạo ra một xã hội mới. "
Có vẻ rằng họ đã hiểu thấu mục đích đạo đức ngay khi họ bắt đầu sự nghiệp nghệ thuật. Năm 1969 họ đã gửi những tấm thiệp đến hơn 300 nhân vật của thế giới nghệ thuật, mô tả họ đang nhìn đăm đắm ra ngoài một cửa sổ ở thành phố London, trong khi tuyết rơi nhẹ ở ngoài trời. Một dòng chú thích cám ơn những người nhận tấm thiệp vì đã "ở bên chúng tôi vào thời điểm này" mà tại thời điểm đó, họ "cảm thấy chính họ là một bức tượng, một tác phẩm nghệ thuật mới, hiếm thấy và tràn đầy sự tinh khiết, cuộc sống và hòa bình." Sự khiêm tốn chưa bao giờ là chướng ngại vật cản trở Gilbert & George; với niềm tin không thể lay chuyển về sứ mệnh nghệ thuật của mình, họ cảm thấy không cần thiết phải trốn tránh việc tự đề cao bản thân. Họ ham muốn mãnh liệt bày tỏ thông điệp của mình, khiến cho mọi người phải trả tiền để nghe và nhìn thấy nó và, trong quá trình đó, đưa nó trở thành một xã hội mới.
Trong tác phẩm thời kỳ đầụ, họ thường xuất hiện như một phần của tác phẩm. Trong "Singing Sculptures" (1969), tác phẩm đã đem lại cho họ sự nổi tiếng ban đầu, Gilbert & George đứng trên một sân khấu nhỏ, trang phục như thường thấy, trong những bộ vét giống hệt nhau, mặt sơn màu vàng, một người cầm cây gậy chống khi đi bộ, còn người kia mang theo một cái can. Khi máy ghi âm phát ra một bản nhạc cũ của Flanagan và Allen song, họ cũng hát theo, di chuyển từ bên này sang bên khác, chỉ dừng lại để tua lại băng. Trong những tác phẩm sau đó, họ xuất hiện trong những bức ảnh khổ lớn, dán lên trên những cái toan khổng lồ sơn màu sáng. Nhưng bất kể sự hiện diện đó là thực hay trên ảnh chụp, Gilbert & George luôn điều khiển các tác phẩm của họ, phần lớn là xuất hiện trần truồng. Họ coi bản thân như là một phần bên trong của nghệ thuật của ho, không thể tách rời khỏi thông điệp mang theo cuộc sống của nó. Là người sáng tạo và truyền tải một ý nghĩa mới, họ vật chất hóa và thần thánh hóa sự hiện diện của chính họ, và đã đi xa đến nỗi cho rằng họ là hiện thân sống của Chúa.
Tất cả những cái đó có một chút hài hước nào không? Khó có thể không nghĩ như vậy khi bạn nhìn thấy cách mà những ông già này làm dáng -- vô cùng nghiêm túc -- trước những tấm toan khổng lồ của họ mô tả cấu trúc phân tử của tinh dịch, phân, và nước tiểu. Nhưng cũng không thể nói thế. Gilbert & George đã gắn cuộc sống của họ quá triệt để với nghệ thuật của họ đến nỗi tính hài hước xa xôi chắc chắn có bao hàm trong đó có vẻ như đã bị chế ngự. Hãy chú ý một lần nữa đến khuôn mặt của họ: có phải một người trong số họ luôn cười một cách ngớ ngẩn? Không hản thế. Ồ, nhưng cũng có thể là như vậy. Vào đoạn kết, đó là một đường rất mong manh mà họ có vẻ như có khả năng nắm giữ. Nhưng sau cùng, những người mang sứ mệnh của mục đích và ý nghĩa mới phải ở tư thế là hình ảnh thu nhỏ của nó.
--------------------------------------------------------------------------------

Felix Gonzalez-Torres
(1957 - 1996)
Sinh tại: Guaimaro, Cuba
Làm việc: York, NY, Mỹ / Miami, FL, Mỹ
Là một nghệ sỹ, một người đồng tính nam, một nạn nhân của AIDS, và một người Mỹ gốc Cuba, Felix Gonzalez-Torres rong chơi bên lề nền văn hóa của chúng ta. Nhưng ai đã đặt anh ta vào vị trí đó? Lịch trình của ai đã vạch ra những đường ranh giới giữa dòng chính thống và ngoại biên? Và một lần nữa, khi những đường đó lại được tạo ra, làm thế nào để phản đối? Trong những tác phẩm nghệ thuật sắp đặt sâu sắc và mang tính chính trị của anh, Felix Gonzalez-Torres đã có câu trả lời: Chống lại những đường biên giới.
Theo cách êm ả riêng biệt của chúng, những tác phẩm sắp đặt theo trường phái Cực tiểu của anh lật đổ từng biên giới, từng sự chia rẽ mà văn hóa đương đại Mỹ đặt ra. Đôi khi những chuyện riêng tư bị phơi bày trước công chúng, như đã từng xảy ra trong những tấm biển quảng cáo khổng lồ của anh mô tả một cái giường nhăn nhúm với những đường cong của người nằm ngủ vẫn còn in dấu. Mọi khía cạnh của nghệ thuật của anh đều nhấn mạnh đến sự lật đổ và chống lại.
Anh thậm chí đã lật đổ quan niệm về nghệ thuật chính trị, tạo ra những tác phẩm êm ả, bí ẩn và thường mang nhiều tính riêng tư. "Untitled (nước Mỹ)" bao gồm một hệ thống đèn chiếu sáng treo lơ lửng, đẹp huy hoàng. Sáng tác ngay sau cái chết vì bệnh AIDS của người bạn tình, nó có vẻ như nói về ý nghiõa của cuộc sống đầy sắc màu, cả cái chết và sự sống sót. Đó cũng là một kiểu đèn hiệu báo trước, đưa mọi người chứng kiến cuộc sống bị làm cho ngắn lại bởi một căn bệnh ảnh hưởng đến nhiều người mà vẫn đang bị phớt lờ trên diện rộng.
Không có tác phẩm nào của Gonzalez-Torres được đặt tên, mặc dù chúng thường có những phụ đề được đặt trong ngoặc đơn. Một lần nữa, anh hướng sự chú ý của mọi người đến các lằn ranh giới; anh từ chối đặt tên cho tác phẩm của mình, bởi vì đặt tên một vật có nghĩa là làm cụ thể hóa nó, phá hủy khả năng đa nghĩa của nó. Anh lật đổ những đường biên bởi vì anh biết rằng những đường biên đó, giống như ý nghĩa, luôn luôn dịch chuyển.
Gonzalez-Torres gọi thiên hướng thách thức các lằn ranh giới là sự "đồi bại" của anh. Một trong những hành động "đồi bại" nhất của anh là "Placebos," một sê-ri kẹo tự làm mà anh tặng cho những nhà bảo trợ bảo tàng. Với tác phẩm này, sự nguy hiểm nằm trong cái có vẻ thân thiện và vui vẻ. Đối với những người yêu nghệ thuật, lĩnh vực mỹ học thường là một sự trốn tránh khỏi văn hóa đại chúng, một nơi mà ở đó tự do và sự tưởng tượng được phát triển tự do. "Placebos" kêu gọi sự chú ý đến những mong ước của những người theo phái thoát ly thực tế này với những viên thuốc đắng được đưa ra một cách ngọt ngào và tế nhị: nghệ thuật, hơn là thuốc chữa những căn bệnh xã hội, đó cũng chỉ là những ý nghĩa khác của sự tự hài lòng về bản thân.
Sự "đồi bại" của anh cũng ảnh hưởng đến phương pháp trưng bày các tác phẩm nghệ thuật của anh. Không tuân theo cách tổ chức triển lãm thông thường ở các gallery, trong đó một nghệ sỹ trưng bày cùng một tác phẩm trong suốt cuộc triển lãm, Gonzalez-Torres thường xuyên thay đổi tác phẩm của mình. Anh biến gallery thành một nơi thay đổi liên tục, bất thường trong những khoảng thời gian không xác định. Về bản chất, anh làm cho gallery thành một ẩn dụ cho cuộc sống với tất cả các câu chuyện chưa hoàn chỉnh và bí ẩn của nó.
Anh giải thích dự định của mình: "Chẳng có quy định nào bắt tôi phải để lại cái gì đó trong gallery trong suốt cả tháng. Tôi sẽ thay đổi nó, tạo ra một kiểu câu chuyện kể... lôi nó ra và lấy nó trở lại, tạo ra một cái gì đó và sau đó phá hủy nó, tạo ra một sự căng thẳng mà chẳng có gì bền vững. Bạn không thể thậm chí phụ thuộc vào một cuộc triển lãm kéo dài cả tháng trời."
--------------------------------------------------------------------------------
Anthony Gormley
(1950 - nay)
Sinh tại: London, Anh
Làm việc: London, Anh
Một nhà phê bình có thể gợi ý rằng Antony Gormley bị ám ảnh bởi thân thể con người. Nghệ sỹ luôn được giới phê bình hoan hô này thường sử dụng chính bản thân anh ta, cũng như thân thể của những người khác nữa để thể hiện hình thức của con người ở nhiều vị trí và chất liệu khác nhau, kể cả những tác phẩm gần đây, bao gồm chì, sắt và đất nung. Qua tác phẩm của anh, Gormley khám phá sự mâu thuẫn giữa thân thể và tinh thần trong bối cảnh của thế giới bên ngoài. Với kích thước của tác phẩm nhỏ cỡ 8 cm và lớn cỡ 175 feet, Gormley đã tạo ra một số những bức tượng hấp dẫn nhất trong khoảng hai thập kỷ vừa qua.
Cũng như Damien Hirst và anh em nhà Chapman, Gormley có đại diện là White Cube Gallery ở London và do đó, thường xuyên liên hệ với nhóm nghệ sỹ trẻ Anh Britpack. Thực ra, Gormley thuộc thế hệ lớn tuổi hơn và có lẽ là thiên về tinh thần hơn là tính lật đổ gây sốc trên con đường nghệ thuật của những đồng nghiệp đương thời trẻ tuổi hơn anh.
Sinh tại London năm 1950, Gormley học tại trường Benedictine Monastic School ở Ampleforth, Yorkshire, và sau đó học về nhân chủng học, khảo cổ học và lịch sử mỹ thuật tại trường Trinity College ở Cambridge. Sau khi tốt nghiệp đại học, anh đã tới Ấn độ và Sri Lanka để nghiên cứu Phật học, và sau này, anh đã nói trước công chúng về cuộc đấu tranh tư tưởng của một người đàn ông trẻ để quyết định trở thành một nhà sư hay một nghệ sỹ. Anh mô tả cả hai con đường này như "những nỗ lực để thấy mọi thứ rõ ràng." Kể từ khi quyết định trở thành một nghệ sỹ, anh đã gây những ảnh hưởng to lớn đến công chúng của nghệ thuật đương đại.
Gormely trở lại nước Anh năm 1974 để học về điêu khắc tại Central School of Fine Art, nhưng một năm sau đó chuyển sang ngôi trường uy tín Goldsmiths College London, và vào năm 1979, anh đã hoàn thành chương trình sau đại học tại Slade School of Fine Art. Bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những khám phá về những thứ không thuộc về phương Tây và chủ nghĩa hiện đại, Gormley tiếp tục tạo ra những tác phẩm mà phản xạ thực tế nhiều nhất có thể.
Vào năm 1994, anh nhận được giải thưởng uy tín Turner Prize và năm 1998 anh đã được trao tặng danh hiệu OBE cho những cống hiến trong điêu khắc. Tác phẩm của anh đã được triển lãm khắp nơi trên thế giới và ở nước Anh tại Bảo tàng Victoria and Albert Museum British Museum, và Tate Gallery. Những bức tượng đặt nơi công cộng do anh thực hiện được thấy ở nhiều vùng khác nhau, bao gồm Gateshead và River Thames, Greenwich. "Angel of the North," thực hiện năm 1998 và đứng như một cái tháp phía trên đường đua mô tô M1 ở Gateshead, England, bắt đầu với một mẫu tượng của chính thân thể tác giả và cuối cùng là một thứ hỗn hợp nửa người, nửa máy bay. Đó là bức tượng lớn nhất nước Anh và có lẽ là bức tượng thiên thần lớn nhất thế giới. Với chiều cao 175 feet và rộng tới 65 feet, "Angel" nặng 200 tấn và chào đón hơn 90,000 khách thăm quan mỗi ngày.
--------------------------------------------------------------------------------

Wang Guangyi
(1956 - nay)
Sinh tại: Harbin, Trung quốc
Làm việc: Beijing, Trung quốc
Vào giữa thập kỷ 1980, Wang Guangyi theo một quan điểm nhân văn về nghệ thuật trên đất nước Trung hoa thời kỳ Hậu-Mao. Loạt tranh của anh mang tên "Frozen North Pole" [bắc cực đóng băng] muốn gợi nên, theo lời của nghệ sỹ, "một vẻ đẹp của một nguyên nhân hùng vĩ với những cảm nhận hòa hợp vĩnh cửu của chủ nghĩa nhân văn." Những hình người trừu tượng được sắp xếp thứ tự trên nền kẻ ô vuông đều hướng mặt về phía trước, như thể tiến đến một tương lai có triển vọng tốt. Thông điệp đó mang tính không tưởng và lạc quan: những con người này là những sinh vật đã tiến hóa của lẽ phải và cảm xúc, những người đã sẵn sàng cho một thế giới lý tưởng.
Ba năm sau, nghệ thuật và nét đặc trưng của Wang đã trải qua một sự đảo ngược hoàn toàn -- mục tiêu mới của anh là "thanh lý sự hăng hái của chủ nghĩa nhân văn." Chuyển sang sử dụng phương pháp cắt-dán và phát triển những ám gợi kiểu Warhol đến nền văn hóa đại chúng, Wang bắt đầu thực hiện nghệ thuật Pop chính trị với tính hài hước. Anh coi tính hài hước như một yếu tố cần thiết trong bầu không khí căng thẳng ở Trung hoa trước khi diễn ra thảm họa Thiên An Môn. Đó là một phản ứng chống lại bằng cách sử dụng thẳng thắn các biểu tượng (như Tượng Nữ thần Tự do) được thấy ở đâu đó trong ván ngửa bài cuối cùng giữa chủ nghĩa Mao và nền dân chủ.
Nghệ thuật mới của Wang chiếm đoạt những hình ảnh tuyên truyền cộng sản từ Trung quốc và trộn lẫn chúng với những quảng cáo đến từ phương Tây. Chúng mô tả theo nghĩa đen những giá trị mâu thuẫn đang diễn ra trên khắp đất nước Trung hoa. Những người lính hồng vệ binh được vẽ theo phong cách poster đứng ngay dưới lo-go Coca-Cola; cái kitsch của những khuỷu tay giương cao của chủ nghĩa cộng sản lẫn với cái kitsch của chủ nghĩa tư bản; nghệ thuật assemblage [đắp nổi] ánh xạ những mảnh vá víu của các hệ tư tưởng trái ngược mà Trung hoa phải cam chịu. Cả hai tác phẩm "Thời đại Mao Trạch Đông" (1991) và "Công nhân, Nông dân, Binh lính và Coca Cola" (1992) làm ngập thời đại Mao trong hào quang của Hollywood, mô tả sự khác biệt giữa hai thể khó có thể phân biệt được.
Wang gợi đến một sự tương đồng giữa các ý nghĩa được sử dụng bởi chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trong nỗ lực truyền bá một quan điểm xã hội nào đó. Cả hai đều dựa trên những hình ảnh đại chúng và những từ phổ thông để tạo ra cộng đồng – là một cộng đồng bao gồm các công dân và những người tiêu thụ. Trên thực tế, sự khác biệt giữa người tiêu thụ và công dân đã hoàn toàn biến mất trong thời kỳ tiền sử, và thế giới đương đại.
--------------------------------------------------------------------------------